Tôi nghe đến 2 nhóm chữ Giả Thiết và Giả
Thuyết trong khi vừa bước lên lớp đệ thất
(lớp 6 sau này) của bậc trung học : giáo sư dạy môn Toán đề cập đến “ Giả
Thiết “ khi bắt đầu dạy đến 3 trường hợp bằng nhau của một tam giác. Trong khi
đó trong môn Vạn Vật (science naturelle),” Giả Thuyết” Laplace là giả thuyết đầu tiên được mọi người
nhắc đến về sự thành lập của các tinh cầu (planete) trong hệ thống Mặt Trời.
Theo từ điển tiếng Việt, có 2 định nghĩa của
Giả Thiết :
Định nghĩa thứ nhất : điều cho trước trong một định lý hay một bài toán , để căn cứ vào
đó mà suy ra một kết luận của định lý hay để giải một bài toán.
Định nghĩa thứ hai : điều coi như là có thật, nêu ra làm căn cứ để phân tích, để suy
luận, để giả định. Thí dụ : loại bỏ những giả thiết thiếu căn cứ.-Giả thiết là
tình hình sẽ xấu hơn.
Nhóm từ Giả Thuyết chỉ có một định nghĩa :
điều nêu ra trong khoa học để giải thích một hiện tượng tự nhiên nào đó và tạm
được chấp nhận, chưa được kiểm nghiệm, chưa được chứng minh.