Hồi mới
bước chân lên đại học, tôi lý tưởng hóa tình yêu và hung hăng con bọ xít lắm.
Trong bài thuyết trình đầu tiên với chủ đề "Tình yêu qua thi ca", tôi
đã hiên ngang chỉ trích nhà thơ tình lãng mạn bậc nhất trong làng văn học hiện
đại là Xuân Diệu, rằng ông không có yêu.
Đầu
tiên, tôi trưng bài thơ "Yêu" (1935) làm dẫn chứng, hỏi ông yêu kiểu
gì mà đem tình yêu đặt lên bàn cân, cân đo đong đếm từng chút từng phân, phân
vân cho nhiều - nhận ít, đắn đo thừa - thiếu, cân nhắc lỗ - lời...?
Yêu là chết ở trong lòng một ít
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu.
Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu;
Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết...
Phút gần gũi cũng như giờ chia biệt.
Tưởng trăng tàn, hoa tạ với hồn tiêu,
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu!
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu.
Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu;
Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết...
Phút gần gũi cũng như giờ chia biệt.
Tưởng trăng tàn, hoa tạ với hồn tiêu,
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu!
Rồi chính ông cũng nhận biết rằng bản thân mình quá
bủn xỉn trong tình yêu, ai lại nỡ so đo mặc cả tình yêu như mua bán món hàng giữa
chợ chiều? Nên ông vội vã thanh minh bằng bài thơ "Tình thứ nhất"
(1937-1939), rằng tình cho không - biếu không. Khổ nỗi, ông càng cố thanh minh "Tình đã cho không lấy lại
bao giờ", ông càng lộ rõ cái bản chất so đo cố hữu của mình, bởi nó đơn giản
chứng tỏ rằng ông luôn ôm ấp trong lòng, cũng như người đau răng mới hay nhắc đến
răng đau:
Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất,
Anh cho em, kèm với một lá thư.
Em không nhận, và tình anh đã mất.
Tình đã cho không lấy lại bao giờ.
Anh cho em, kèm với một lá thư.
Em không nhận, và tình anh đã mất.
Tình đã cho không lấy lại bao giờ.
Bằng cử chỉ dí dỏm, tôi thêm dấu phẩy và dấu nghi vấn vào trước và
sau chữ "bao giờ" trong câu thơ trên bảng, làm thay đổi ý nghĩa của
câu thơ, khiến cả lớp bật cười vang:
Tình đã cho không lấy lại, bao giờ?