Nước mắm là văn minh lâu đời của người Việt. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, phần Quốc dụng chí, thời Lý Thái Tổ năm 1013, theo ghi chép của Phan Huy Chú, nước mắm là một trong sáu loại thổ sản phải đóng thuế.
Nước mắm được chiết từ thịt cá biển ướp muối lên men - một hỗn hợp muối với các axit amin được chuyển biến từ protein trong quá trình thịt cá thuỷ phân nhờ hệ enzyme có sẵn trong ruột cá cùng với một loại vi khuẩn kỵ khí chịu mặn. Lào không có biển, nước mắm không phải nguồn gốc từ Lào. Người Lào và Campuchia không dùng nước mắm hàng ngày, trong khi mâm cơm người Việt thường có chén nước mắm. Nước mắm Thái cũng nguồn gốc từ Việt Nam vì khi xuất khẩu trên nhãn hiệu thường ghi tiếng ngoại quốc (Anh, Pháp) kèm thêm hai chữ : Nước mắm. Thái Lan xuất khẩu nước mắm để phục vụ cộng đồng người Việt di tản ở nước ngoài. Người châu Âu không ưa mùi nước mắm. Sau 1975, Việt Nam bị cấm vận. Bắt nắm được nhu cầu thiết yếu của người Việt xa xứ, Thái Lan đã dùng người tị nạn Việt làm nước mắm và đồ ăn Việt xuất khẩu. Ngư dân Việt di cư nhiều khi chữ quốc ngữ chưa thạo nên ghi chú thành phần và hàm lượng nước mắm, các thức ăn khác như bánh đa, bún… bằng tiếng Việt ngây ngô nhiều lỗi chính tả.