Khi
Hiệp Định Genève ký kết chia hai đất nước ngang qua giòng sông Bến Hải ngày 20
tháng Bẩy năm 1954, lúc đó tôi mới lên chín bằng một nửa cái tuổi mười tám
nhưng không hiểu sao tôi vẫn nhớ mãi bài hát đó về Hà Nội, “Nỗi Lòng Người Đi”,
và về quê hương miền Bắc dấu yêu. Tuy còn nhỏ nhưng trong ký ức của tôi không
bao giờ phai mờ về những kỷ niệm thuở ấu thơ lúc còn ở Hà Nội, khi đến thăm bác
tôi ở Hải Dương và nhất là những năm tháng ở Hải Phòng – thành phố bừng lên rực
rỡ vào mùa Hè với những hàng cây cao vút hoa Phượng vĩ, và những năm tiểu học tại
ngôi trường dòng St. Joseph. Hải Phòng là nơi tôi đã sống những năm tháng đẹp
nhất của thời niên thiếu trước khi di cư vào Nam. Tôi sinh ra tại Nam Định,
thành phố lớn thứ ba sau Hà Nội và Hải Phòng nhưng không nhớ một chút gì về
thành phố nổi tiếng nhiều nhân tài cho đất nước này vì khi tôi mới sinh ra đời
là chạy loạn liên miên để tránh bom đạn và các cuộc chạm súng giữa Pháp, Nhật
và Việt Minh. Đó là khoảng thời gian loạn lạc chiến tranh khắp nơi và người dân
miền Bắc vẫn còn chịu nhiều tang thương khổ ải dù Thế Chiến Thứ Hai đã chấm dứt
từ lâu. Năm tôi sinh ra đời mang nhiều dấu vết thương tâm in hằn lên quê hương
miền Bắc – những đau thương không bao giờ có thể quên được, không thể nào xóa
nhòa vì hàng triệu người dân quê hiền lành chất phác đã chết thảm vì nạn đói do
quân phiệt Nhật Bản gây ra khi họ ra lệnh nhổ hết lúa để trồng đay cho kỹ nghệ
chiến tranh của họ tại Đông Dương. Thái Bình là một tỉnh vựa lúa của miền Bắc lại
là nơi nhiều nông dân thiệt mạng nhất vì nạn đói năm Ất Dậu. Từng làng từng xã
phải tuần tự bỏ vùng quê lên tỉnh để xin ăn và người chết vì kiệt sức vì thiếu
ăn nằm phơi thây trên khắp các tỉnh thuộc lưu vực sông Hồng. Mẹ tôi vẫn thường
kể lại những ngày tháng bi thương oan khiên đó – mỗi ngày mẹ phải nhìn những xe
bò kéo qua nhà chở đầy xác người chết đói nằm cong queo chất đống lên nhau đem
đi chôn vội vàng tại các khu đất trống vì nghĩa trang không còn chỗ. Nhiều người
sau thời gian dài từ quê lên tỉnh không có gì trong bụng vừa đến trước cửa nhà
xin ông xin bà một bát cơm thì ngã xuống đất chết một cách rất thương tâm. Nhờ
có cụ nội của tôi biết xem thiên văn nên cụ đã báo động cho họ hàng về một nạn
đói khó tránh khỏi nên mẹ tôi đã trữ gạo trong nhà. Nhờ đó mỗi ngày mẹ tôi và
chị giúp việc cầm những nắm cơm nhỏ đứng trước cửa nhà phân phát cho những người
qua đường, và đã cứu sống được hàng trăm người. Có một cô bé sau khi được mẹ
tôi cho ăn và tỉnh lại đã xin vào làm giúp việc cho gia đình không cần lương. Mẹ
tôi đã vui vẻ thâu nhận nhưng vẫn cho cô bé một số tiền mỗi tháng. Mẹ kể câu
chuyện cười ra nước mắt về cô bé tên Lành này. Vì khi Lành nấu ăn, vốn đã bị bỏ
đói quá lâu nên cô bé thường hay ăn vụng thức ăn, mẹ tôi thường bắt gặp nhưng
không la rầy gì. Mẹ tôi còn nói nó đói quá lâu tội nghiệp cứ cho nó ăn một thời
gian thì sẽ không còn ăn vụng nữa.